Giữa núi rừng Sơn La mây phủ, những rừng chè shan tuyết cổ thụ vẫn lặng lẽ tồn tại qua hàng trăm năm mưa nắng.
.jpg)
Sản phẩm chè shan tuyết Tà Xùa. Ảnh: Trường Sơn
Trải dài từ Tà Xùa, Ôn Ốc, Bản Leo đến Mường Bang, Suối Lèo, mỗi vùng chè cổ thụ mang một sắc thái riêng nhưng cùng là nguồn gen quý, góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng nguyên sinh, tạo sinh kế bền vững, phục vụ du lịch trải nghiệm và lưu giữ một phần bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc vùng cao.
Những “chứng nhân” của núi rừng
Các vùng chè cổ thụ ở Sơn La có diện tích lên tới hàng nghìn héc-ta, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 1.000m đến gần 2.000m so với mực nước biển - nơi khí hậu mát lạnh, sương mù bao phủ quanh năm và còn giữ được diện tích rừng tự nhiên. Những cây chè shan tuyết thân phủ rêu phong, búp mập, xanh non, lá ngọn có lớp lông tơ trắng, tuổi đời từ vài chục đến hàng trăm năm, sinh trưởng hoàn toàn tự nhiên dưới tán rừng, không theo hàng lối.
Tại xã Tà Xùa, các quần thể chè cổ thụ phân bố rải rác ở nhiều bản vùng cao như Bẹ, Chung Chinh, Làng Sáng và bản Tà Xùa. Trong đó, quần thể 200 cây chè shan tuyết cổ thụ đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam từ năm 2019, với tuổi đời từ 200 đến gần 300 năm. Những cây chè này sinh trưởng tự nhiên dưới tán rừng già, được cộng đồng địa phương gìn giữ, bảo vệ như tài sản chung qua nhiều thế hệ.
Ở bản Ôn Ốc, xã Chiềng Hặc, quần thể chè shan tuyết cổ thụ mọc cheo leo, trải dài trên sườn núi Pha Đét. Nhiều cây cao hơn 15m, thân mốc trắng rêu phong; muốn thu hái phải trèo lên từng bậc cành. Chè ở đây có búp to, lá lớn, tán rộng.
Tại bản Leo, xã Vân Hồ, hơn 6ha chè cổ thụ mọc ở độ cao trên 1.800m so với mực nước biển vẫn được gìn giữ giữa rừng tự nhiên sau nhiều năm bị lãng quên. Chè cổ thụ bản Leo nổi bật với tôm chè trắng như tuyết phủ, hương vị đặc trưng, nước xanh trong, vị chát dịu và ngọt hậu.
Đặc biệt, tại bản Suối Lèo, xã Mường Cơi, người dân đang bảo tồn trên 1.000 cây chè shan tuyết núi cao, nhiều gốc chè lớn đến mức 2 - 3 người ôm không xuể, tán rộng, rễ bám sâu vào sườn núi đá. Theo người cao tuổi trong bản, những cây chè này đã tồn tại hàng trăm năm, gắn với quá trình cư trú lâu dài của cộng đồng dân tộc nơi đây.
Ở xã Mường Bang hiện có khoảng 11.000 gốc chè shan tuyết cổ thụ phân bố tại các bản Lằn, Kiểng, Páp. Những cây chè này được phát hiện từ trước năm 1958, được xem là nguồn gen bản địa quan trọng, làm nền tảng cho định hướng phát triển chè bền vững gắn với sinh kế người dân.
Điểm chung của các vùng chè cổ thụ Sơn La là gắn chặt với rừng tự nhiên, phân bố rải rác. Chè chỉ sinh trưởng tốt khi rừng còn, bởi vậy, bảo tồn chè cũng chính là giữ rừng và gìn giữ sinh cảnh.
.jpg)
Người dân bản Bẹ, xã Tà Xùa sao chè shan tuyết bằng phương pháp truyền thống. Ảnh: Trường Sơn
Từ thức uống bình dị bản làng đến sinh kế bền vững
Từ xa xưa, chè shan tuyết cổ thụ được người dân thu hái để nấu nước uống hằng ngày hoặc làm quà biếu trong các dịp lễ, Tết. Sau đó, bà con mang chè xuống các xã, các huyện lân cận để đổi lấy thóc gạo, vải vóc - một hình thức trao đổi hàng hóa phổ biến khi giao thương còn nhiều khó khăn. Chè sau khi hái được sao thủ công trên chảo gang, cho vào túi hoặc ống lam tươi để bảo quản, giúp giữ hương vị thơm lâu dài. Cách làm mộc mạc ấy đã hình thành nên một truyền thống chè độc đáo của đồng bào vùng cao.
Trong một thời gian dài, do giá trị kinh tế chưa được nhìn nhận đúng mức, nhiều vùng chè cổ thụ, trong đó có Ôn Ốc, Mường Bang, từng bị bỏ hoang, trở thành bãi chăn thả trâu bò, thậm chí bị chặt bỏ để nhường đất cho cây trồng khác như ngô, sắn. Trước nguy cơ mai một giống chè quý, từ giai đoạn năm 2010 - 2020, một số doanh nghiệp, hợp tác xã đã phối hợp với chính quyền địa phương và người dân khôi phục các vùng chè này. Đến nay, nhiều sản phẩm chè shan tuyết cổ thụ đã được chứng nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao, 4 sao cấp tỉnh. Sản phẩm từ chè shan tuyết cổ thụ được bán với giá từ 600.000 đồng đến 3 triệu đồng/kg tùy loại, như chè shan sao tay, chè xanh mây, chè xanh thiện, bạch chè mây, chè ống lam...
Tại bản Leo (xã Vân Hồ) và bản Suối Lèo (xã Mường Cơi), người dân bắt đầu thu hái chè cổ thụ theo nguyên tắc chọn lọc, không tận thu, bán cho doanh nghiệp thu mua để chế biến chè đặc sản. Nhờ đó, chè không chỉ được bảo tồn mà còn mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình vùng cao. Ở Mường Bang, chính quyền xã hỗ trợ người dân học nghề sao chè, đầu tư chế biến quy mô nhỏ, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm, giúp chè bản địa có chỗ đứng trên thị trường.
Giữ chè cổ thụ là giữ rừng, giữ thương hiệu vùng cao
Khác với các vùng chè trồng tập trung, chè shan tuyết cổ thụ Sơn La tồn tại nhờ mối quan hệ hữu cơ giữa chè - rừng - con người. Bởi vậy, các địa phương đều xác định phát triển chè phải gắn với bảo tồn rừng và gìn giữ bản sắc văn hóa.
Tại xã Tà Xùa, công tác bảo vệ các quần thể chè cổ thụ, trong đó có 200 cây chè được công nhận Cây di sản Việt Nam, được triển khai song song với mục tiêu phát triển thương hiệu. Ông Đỗ Văn Xiêm - Chủ tịch UBND xã Tà Xùa - cho biết: “Địa phương xác định chè shan tuyết cổ thụ là sản phẩm đặc trưng. Thời gian tới, xã tiếp tục bảo vệ nghiêm ngặt các quần thể chè cổ thụ, đồng thời giữ vững và phát triển thương hiệu chè shan tuyết Tà Xùa, nâng cao giá trị sản phẩm, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến và phát triển du lịch gắn với chè”.
Không chỉ ở Tà Xùa, tại Ôn Ốc, Bản Leo hay Suối Lèo, người dân đều thống nhất quy ước không chặt phá rừng để trồng chè, thu hái đúng kỹ thuật, không làm tổn hại cây. Việc hái chè hoàn toàn bằng tay, lựa chọn “một tôm hai lá”, vừa đảm bảo chất lượng, vừa kéo dài tuổi thọ cây.
Từ Tà Xùa mây phủ đến Suối Lèo rừng già, từ đỉnh Pha Đét của Ôn Ốc đến rừng chè Bản Leo, mỗi vùng chè shan tuyết cổ thụ là một mảnh ghép của “vàng xanh” Sơn La - thứ tài sản không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn là di sản thiên nhiên và văn hóa cần được gìn giữ lâu dài.